Có những miền quê, chỉ cần nhắc tên thôi, trong lòng người xa xứ đã bỗng dâng lên một niềm thương nhớ khôn nguôi. Có những vùng đất không ồn ào, không phô trương, nhưng càng đi xa, càng trải qua năm tháng, người ta càng nhận ra nơi ấy chính là phần máu thịt thiêng liêng nhất trong cuộc đời mình.
Ngọc Điền là một miền quê như thế.
Nép mình bên dòng sông đào hiền hòa của vùng đất Hưng Nguyên, Nghệ An, Ngọc Điền hiện lên trong ký ức của bao thế hệ người dân quê nhà bằng vẻ đẹp mộc mạc, thanh bình và sâu nặng nghĩa tình. Đó là nơi có những cánh đồng xanh mướt theo mùa lúa, có con đường làng in dấu chân bao thế hệ, có tiếng gà gọi sáng, tiếng ru con của mẹ, tiếng bà kể chuyện xưa trong những đêm hè gió mát. Đó cũng là nơi có bùn đất, mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của cha ông đã hòa vào từng thửa ruộng, từng bờ tre, từng lối nhỏ.
Ngọc Điền không chỉ là một địa danh. Ngọc Điền là ký ức. Là cội nguồn. Là nơi để mỗi người con, dù đi đâu, làm gì, vẫn luôn có một chốn thiêng liêng để nhớ về.
Theo dòng chảy của lịch sử, tên gọi Ngọc Điền đã hiện diện qua nhiều thời kỳ cùng bao đổi thay của quê hương. Tên làng, tên xóm có lúc thay đổi theo những biến động hành chính và lịch sử, nhưng trong tâm thức người dân nơi đây, Ngọc Điền vẫn luôn là cái tên thân thuộc, thiêng liêng, gắn với nếp sống, phong tục, tình làng nghĩa xóm và niềm tự hào truyền đời.
Theo lời kể của các bậc cao niên, Ngọc Điền xưa còn được gọi bằng những cái tên thân thuộc như Kẻ Đìn, xóm Đìn, làng Ngọc Điền. Mỗi tên gọi là một lớp trầm tích của thời gian, là dấu tích của một cộng đồng cư dân đã cùng nhau khai khẩn, dựng làng, giữ đất và vun đắp nên một miền quê giàu bản sắc.
Người xưa từng ví địa thế Ngọc Điền như hình dáng một con hạc lớn đang đứng giữa trời đất. Đầu hạc là vùng Mũi Nhẹ, cổ hạc là vùng Cổ Hạc, thân hạc trải dài qua các xóm cổ, còn đôi chân vững chãi đặt trên vùng Cồn Nổi. Con Rào xưa uốn lượn quanh làng, lúc mềm mại, lúc quanh co, như ôm lấy xóm làng trong vòng tay của sông nước. Từ hình sông, thế đất ấy, dân gian lưu truyền rằng Ngọc Điền là vùng đất có linh khí, có thanh long, bạch hổ, có quy, có phượng, một miền quê được cha ông tự hào gọi là vùng đất địa linh nhân kiệt.
Dẫu những cách hình dung ấy mang màu sắc dân gian và phong thủy truyền đời, nhưng điều chắc chắn hơn cả là người Ngọc Điền qua bao thế hệ luôn có một tình yêu rất sâu với mảnh đất mình đang sống. Chính tình yêu ấy đã làm nên sức sống bền bỉ của làng quê này.
Một thời, làng Kẻ Đìn, Ngọc Điền từng là nơi giao thương sầm uất trong vùng. Bến Cát, Bến Chợ không chỉ là nơi mua bán, trao đổi hàng hóa, mà còn là không gian sinh hoạt cộng đồng, nơi gặp gỡ của người dân trong làng và các vùng lân cận. Hàng từ miền ngược theo thuyền xuôi về: tre, gỗ, nứa, mét. Hàng từ miền biển ngược lên: muối, cá, mắm, ruốc. Trên bến dưới thuyền, tiếng người mua bán, tiếng mái chèo, tiếng gọi nhau í ới từng làm nên một nhịp sống rộn ràng của làng quê ven sông.
Ngọc Điền khi ấy không chỉ có nghề nông. Bên cạnh những cánh đồng lúa màu mỡ, người dân còn làm nhiều nghề khác: chăn tằm, dệt vải, làm mộc, làm rèn, đan lưới, đóng thuyền, nấu vôi, làm gạch ngói. Những nghề ấy tuy mộc mạc nhưng đã nuôi sống bao gia đình, làm nên sự cần cù, khéo léo và bản lĩnh của người dân nơi đây.
Đời sống vật chất có thể chưa sung túc như hôm nay, nhưng đời sống tinh thần của người Ngọc Điền xưa lại vô cùng phong phú. Có những hình ảnh hôm nay chỉ còn sống trong ký ức của các bậc cao niên và trong lời kể truyền lại cho con cháu. Đó là mái chùa cổ mang tên Phúc Khánh, rêu phong thấp thoáng dưới bóng cây, là Nhà Thánh, đình làng, giếng thần, hồ sen, ao Tam Bảo, cây đa tế cổ thụ, con đường Cầu Cổng, cây cầu gỗ lim bên con Rào quanh co. Nhiều dấu tích xưa nay không còn nguyên vẹn, có nơi đã mất theo thời gian, chiến tranh, thiên tai và biến động của đời sống. Nhưng trong tâm thức người Ngọc Điền, tất cả vẫn hiện lên thân thương như một phần hồn vía của làng.
Ngày ấy, vào những đêm trăng sáng, bên cây cầu gỗ lim cũ kỹ, trai gái trong làng chuyện trò, hò hẹn. Trong chùa, các cụ cao tuổi cầu phúc, cầu an cho gia đình, xóm làng. Bên Nhà Thánh, các cụ đồ nho, ông cử, ông phán lấy câu thơ, câu phú làm vui, uống chén trà, ngâm đôi câu thơ, bàn chuyện thế sự. Hương sen từ ao làng theo gió lan nhẹ khắp không gian, tiếng chuông chùa ngân xa trong đêm, tiếng nước vỗ mạn bờ khe khẽ như ru yên cả một miền quê.
Những cảnh ấy hôm nay có thể không còn như xưa nữa. Nhưng chính những điều đã mất ấy lại làm cho ký ức Ngọc Điền thêm sâu, thêm đẹp, thêm lay động. Bởi quê hương không chỉ là những gì còn nhìn thấy trước mắt, mà còn là những gì đã lắng lại trong lòng người.
Trong kho tàng văn hóa của làng, Hương ước Ngọc Điền năm 1883 là một tư liệu đặc biệt quý giá. Bản hương ước không chỉ là những quy định của cộng đồng làng xã xưa, mà còn phản ánh nếp sống, đạo lý, phong tục và trật tự xã hội của cha ông. Qua những điều lệ ấy, có thể thấy người Ngọc Điền từ thuở trước đã coi trọng lễ nghĩa, kỷ cương, tình làng nghĩa xóm và trách nhiệm của mỗi người với cộng đồng. Đó là một nét đẹp văn hóa bền bỉ, góp phần tạo nên cốt cách của làng quê.
Nhắc đến Ngọc Điền, không thể không nhắc đến Đền Ngọc Điền, một công trình văn hóa tâm linh gắn bó sâu sắc với đời sống tinh thần của người dân. Đền thờ Cao Sơn, Cao Các, Thánh Mẫu Liễu Hạnh và là nơi gửi gắm niềm tin, lòng thành kính của bao thế hệ. Trải qua thời gian, chiến tranh và mưa nắng, nhiều hạng mục của đền xưa không còn nguyên vẹn. Nhưng với sự chung tay góp sức của chính quyền, nhân dân địa phương và những người con xa quê, đền đã được phục dựng, tôn tạo, trở thành điểm sinh hoạt văn hóa tâm linh quan trọng của quê hương.
Đền Ngọc Điền không chỉ là nơi thờ tự. Nơi đây còn là chứng nhân của lịch sử. Trong những năm 1930–1931, khi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bùng lên mạnh mẽ, Đền Ngọc Điền là một trong những địa điểm gắn với các hoạt động hội họp, mít tinh, biểu tình của quần chúng. Mảnh đất ấy từng chứng kiến khí thế đấu tranh sục sôi của người dân trong khát vọng giành lại quyền sống, quyền tự do và phẩm giá cho những người lao động nghèo.
Rồi đất nước bước vào những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, những người con Ngọc Điền lại lần lượt lên đường. Họ rời mái nhà tranh, rời bờ tre, giếng nước, rời ruộng đồng đang mùa cấy gặt để đi vào chiến trường. Có người trở về với thương tật trên thân thể. Có người mãi mãi nằm lại nơi rừng sâu, núi thẳm, nơi chiến hào, nơi biên giới xa xôi. Có người mẹ tiễn con đi rồi không bao giờ còn được nghe tiếng con gọi mẹ.
Lịch sử xã Hưng Thái trước đây, nay thuộc xã Hưng Nguyên, đã ghi nhận 156 liệt sĩ trong các thời kỳ đấu tranh, kháng chiến và bảo vệ Tổ quốc. Riêng làng Ngọc Điền có gần 50 liệt sĩ, một con số khiến người ta không thể đọc lên mà lòng không nghẹn lại. Gần 50 người con của một làng quê nhỏ đã hóa thân vào đất nước. Gần 50 gia đình từng có những bữa cơm thiếu vắng một người không bao giờ trở lại. Gần 50 nén hương là gần 50 câu chuyện về tuổi trẻ, về ước mơ, về tình yêu quê hương và sự hy sinh cao cả.
Những bà mẹ Ngọc Điền trong chiến tranh là những người mẹ Việt Nam bình dị mà vĩ đại. Họ không nói nhiều về nỗi đau của mình. Họ lặng lẽ tiễn chồng, tiễn con ra trận; lặng lẽ nuốt nước mắt vào trong; lặng lẽ gánh vác việc nhà, việc làng; lặng lẽ chờ đợi giữa những mùa bom đạn. Có những người mẹ chờ đến bạc tóc mà người thân vẫn không về. Nhưng chính sự lặng lẽ ấy đã làm nên chiều sâu bất tử của lòng yêu nước.
Ngọc Điền vì thế không chỉ là vùng đất của phù sa và ruộng đồng. Ngọc Điền còn là vùng đất của máu xương, của khí phách, của những con người biết sống nghĩa tình và biết hy sinh khi Tổ quốc cần.
Trên mảnh đất ấy, truyền thống hiếu học và trọng đạo lý cũng được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Dưới thời phong kiến, Ngọc Điền có nhiều người học hành, đỗ đạt, nhiều nhà nho, thầy đồ, người có uy tín trong vùng. Những cái tên như Tiến sĩ Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Tất Đắc, Hàn Nguyễn, Hàn Cao, cụ Xứ Hùng, Cựu Tuyển và nhiều bậc nho sĩ khác được nhắc lại như niềm tự hào của quê hương. Họ là biểu tượng cho truyền thống học hành, trọng chữ nghĩa và khát vọng vươn lên của người dân nơi đây.
Đến thời kỳ xây dựng xã hội mới, Ngọc Điền lại ghi dấu bằng hình ảnh Anh hùng Lao động Cao Lục, người gắn với Hợp tác xã Ba Tơ vang bóng một thời. Trong những năm tháng gian khó, khi miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hợp tác xã Ba Tơ từng trở thành lá cờ đầu của nền nông nghiệp Miền Bắc XHCN. Hình ảnh người cán bộ tận tụy, liêm khiết, đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân đã trở thành niềm tự hào lớn lao của người dân Ngọc Điền.
Có thể nói, ở mỗi giai đoạn lịch sử, Ngọc Điền đều có những người con biết làm rạng danh quê hương. Khi đất nước cần người cầm súng, họ ra trận. Khi quê hương cần người khai hoang, mở đất, họ lặng lẽ cày sâu cuốc bẫm. Khi đất nước cần xây dựng, họ trở thành những người lao động cần cù, sáng tạo. Dù ở vị trí nào, người Ngọc Điền vẫn giữ một phẩm chất chung: chân chất, bền bỉ, nghĩa tình và không chịu khuất phục trước khó khăn.
Chiến tranh đã lùi xa. Những tháng năm gian lao, khốc liệt giờ chỉ còn trong ký ức của người già, trong bia tưởng niệm, trong những câu chuyện kể lại bên mâm cơm ngày giỗ, ngày Tết. Nhưng ký ức ấy không mất đi. Nó lặng lẽ chảy trong đời sống hôm nay, nhắc nhở con cháu rằng cuộc sống bình yên này đã được đánh đổi bằng biết bao hy sinh của cha anh.
Ngọc Điền hôm nay đang đổi thay từng ngày. Những con đường đất lầy lội năm xưa đã được thay bằng đường bê tông sạch đẹp. Những mái nhà tranh, nhà ngói cũ dần nhường chỗ cho những ngôi nhà khang trang, kiên cố. Máy móc đã về với đồng ruộng, thay cho nhiều nhọc nhằn của người nông dân. Trẻ em được học hành đầy đủ hơn, người cao tuổi được chăm lo tốt hơn, đời sống nhân dân ngày càng khởi sắc.
Nhưng điều đáng quý nhất là trong sự đổi thay ấy, Ngọc Điền vẫn giữ được hồn quê của mình. Vẫn còn đó tình làng nghĩa xóm. Vẫn còn đó sự kính trọng tổ tiên. Vẫn còn đó niềm tự hào khi nhắc đến quê hương. Vẫn còn đó những người con xa quê, dù làm ăn ở muôn phương, vẫn hướng lòng về làng cũ, về đền xưa, về những nấm mồ tổ tiên, về nơi mình đã cất tiếng khóc chào đời.
Với người ngoài, Ngọc Điền có thể chỉ là một xóm nhỏ trên bản đồ. Nhưng với người sinh ra từ mảnh đất ấy, Ngọc Điền là cả một trời thương nhớ. Là bóng mẹ bên thềm. Là dáng cha ngoài ruộng. Là tiếng gọi nhau qua hàng rào dâm bụt. Là mùi rơm mới sau mùa gặt. Là con đường tuổi thơ đi học. Là bến nước, bờ tre, là những mùa sen cũ, những đêm trăng xưa, những câu chuyện đã nghe từ thuở bé.
Và hơn hết, Ngọc Điền là niềm tự hào.
Tự hào vì một miền quê nghèo mà không hèn, nhỏ bé mà kiên cường. Tự hào vì cha ông đã dựng làng, giữ đất, gìn giữ phong tục, nếp nhà. Tự hào vì biết bao người con đã học hành, lao động, chiến đấu, hy sinh để làm rạng danh quê hương. Tự hào vì giữa bao đổi thay của cuộc sống, người Ngọc Điền vẫn không quên cội nguồn.
Quê hương, suy cho cùng, không phải chỉ là nơi ta sinh ra. Quê hương là nơi giữ lại phần trong trẻo nhất của đời người. Là nơi mỗi lần trở về, ta thấy lòng mình dịu lại. Là nơi dù đi xa đến đâu, chỉ cần nghe hai tiếng “Ngọc Điền”, trái tim người con xa xứ lại bỗng nghẹn ngào.
Ngọc Điền, vùng đất địa linh nhân kiệt, không chỉ đẹp bởi thế đất, dáng sông, bởi những câu chuyện lưu truyền trong dân gian. Ngọc Điền đẹp hơn cả bởi con người. Những con người đã sống, đã yêu, đã chịu thương chịu khó, đã hy sinh và đã làm nên hồn cốt của quê hương.
Để hôm nay, mỗi người con Ngọc Điền khi nhắc về quê mình có thể ngẩng cao đầu mà nói bằng tất cả niềm xúc động:
Tôi tự hào vì được sinh ra từ mảnh đất ấy.
Tôi tự hào vì mình là người Ngọc Điền.
